Các dịch vụ:

* Đầu tư nước ngoài: 0937.029.368

* Quảng bá website để có nhiều khách hàng đến website của bạn hơn: Hotline: 0908 744 256 - 0917 212 969 - 08.8816 2969 (Mr Thanh), Email: [email protected] - [email protected]
Đầu tư nước ngoài

Tổng số dự án vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp, khu kinh tế cả nước đạt khoảng 8.900 dự án với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 186 tỷ USD...

Vụ Quản lý khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến cuối tháng 6 năm 2019, cả nước có 326 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên đạt xấp xỉ 95,5 nghìn ha, trong đó diện tích đất công nghiệp đạt khoảng 65,6 nghìn ha, chiếm khoảng 68,7%.

Trong 326 khu công nghiệp được thành lập, có 251 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 66,2 nghìn ha và 75 Khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng với tổng diện tích khoảng 29,3 nghìn ha.

Tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp đang hoạt động đạt gần 74%.

Bên cạnh đó, cả nước cũng có 17 khu kinh tế ven biển đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng hơn 845 nghìn ha. Ngoài ra, Khu kinh tế Ninh Cơ (tỉnh Nam Định) nằm trong quy hoạch phát triển các khu kinh tế nhưng chưa được thành lập.

Lũy kế đến tháng 6/2019, có 38 khu công nghiệp nằm trong Khu kinh tế với tổng diện tích khoảng 15,2 nghìn ha; trong đó 17 khu công nghiệp đang hoạt động có tổng diện tích khoảng 6,9 nghìn ha và 21 Khu công nghiệp xây dựng cơ bản với tổng diện tích khoảng 8,3 nghìn ha.

Đầu tư nước ngoài



Về tình hình thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế, uớc tính trong 6 tháng đầu năm 2019, các khu công nghiệp, khu kinh tế trên cả nước thu hút được khoảng 340 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký mới đạt khoảng 8,7 tỷ USD, nâng tổng số dự án vốn đầu tư nước ngoài lên khoảng 8.900 dự án với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 186 tỷ USD.

Đối với các dự án đầu tư trong nước, các Khu công nghiệp, khu kinh tế trên cả nước thu hút được khoảng 334 dự án với tổng vốn đăng ký mới đạt khoảng 82,9 nghìn tỷ đồng, nâng tổng số dự án đầu tư nước ngoài lên khoảng hơn 9.086 dự án với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 2.060,5 nghìn tỷ đồng.

Ước tính đến hết tháng 6/2019, có hơn 3,6 triệu lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu kinh tế trên cả nước, trong đó số lao động nữ chiếm khoảng 60%.

Dự kiến đến hết tháng 6/2019, có 221/251 khu công nghiệp đang hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 88%.

Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) vào ngành Công nghiệp ở Việt Nam đã tạo được những bước phát triển mới, từng bước đẩy mạnh sản xuất công nghiệp phát triển, tăng hàm lượng giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa các nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động và mở rộng thị trường trong nước và tăng trưởng xuất khẩu.

Thực trạng đầu tư nước ngoài trong một số ngành công nghiệp

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam từ đầu năm đến thời điểm 20/11/2012 đạt 12,2 tỷ USD (bằng 78,6% cùng kỳ năm trước) với 980 dự án được cấp phép mới (7,3 tỷ USD), 406 lượt dự án đăng ký bổ sung được cấp phép từ các năm trước (4,9 tỷ USD); trong đó đầu tư vào một số ngành công nghiệp có vốn đầu tư lớn như công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo... đạt 8,5 tỷ USD, chiếm 69,8% tổng vốn đăng ký.

Đầu tư nước ngoài


Lĩnh vực đầu tư có điều kiện là lĩnh vực chỉ được thực hiện đầu tư với các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định.
Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư.

Khu vực ĐTNN đang chiếm hầu hết sản lượng một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, ô tô, xe máy, máy giặt, điều hòa, tủ lạnh, điện tử); 60% cán thép; 28% xi măng; 33% máy móc thiết bị điện, điện tử; thực phẩm đồ uống… Nhiều ngành công nghiệp quan trọng (điện tử, hóa chất, ô tô, xe máy, may mặc, giày dép) đã được hình thành và phát triển thông qua thu hút vốn FDI. Một số địa phương có nhiều dự án ĐTNN trong khu vực chế tạo phải kể đến là Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Phúc, khu vực ĐTNN chiếm tỷ trọng từ 70% - 80% giá trị sản xuất công nghiệp ở các địa phương này.

Với việc tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đã giải quyết việc làm và cải thiện nguồn nhân lực cho ngành Công nghiệp. Hiện nay, doanh nghiệp ĐTNN đã tạo hơn 2,3 triệu việc làm trực tiếp, bằng khoảng 22% tổng số lao động đang làm việc trong khu vực doanh nghiệp Việt Nam; trong đó có hàng vạn kỹ sư, nhà quản lý trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, với thu nhập ngày càng tăng; đồng thời, góp phần du nhập phương thức lao động, kinh doanh và quản lý tiên tiến của các nước.

Thời gian qua, có nhiều dự án FDI lớn đầu tư vào một số ngành như Công nghiệp Điện tử, mang lại những kỳ vọng lớn cho sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp điện tử của Việt Nam. Trong đó có các dự án: Nhà máy Sản xuất điện thoại di động, trị giá 302 triệu USD của Nokia, công suất 45 triệu sản phẩm/quý, tạo việc làm cho 10.000 lao động được khởi công vào ngày 23/4/2012 tại Khu công nghiệp - Đô thị VSIP Bắc Ninh; Dự án Công ty TNHH Wintek Việt Nam tại Bắc Giang, sản xuất các loại màn hình cảm ứng cho điện thoại di động, với tổng số vốn đăng ký 250 triệu USD, giải quyết việc làm cho 7.000 lao động đã đi vào hoạt động từ cuối năm 2011. Ngoài ra, một số dự án khác đã được đầu tư trước đó vào Việt Nam như Dự án sản xuất chipset, vốn đầu tư giai đoạn I là 300 triệu USD và tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD của Intel; Dự án 670 triệu USD và dự kiến nâng lên 1,5 tỷ USD của Samsung; các dự án của Compal, Foxconn... Khi các nhà sản xuất điện tử hàng đầu thế giới cùng đứng chân ở Việt Nam, sẽ tạo thêm lực hút kéo các nhà đầu tư vệ tinh tới, góp phần tăng cường xuất khẩu. Năm 2011, chỉ riêng Nhà máy sản xuất điện thoại di động của Samsung đã xuất khẩu tới 5,8 tỷ USD, góp phần quan trọng đưa các sản phẩm điện thoại, linh điện tử trở thành mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn đứng thứ hai của cả nước.



Định hướng thu hút FDI

Nhìn lại thời gian qua, ĐTNN trong các ngành công nghiệp tuy có một số khởi sắc và chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhưng quy mô và hiệu quả đầu tư vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Chẳng hạn đầu tư vào ngành Công nghiệp hỗ trợ ở nước ta hiện nay còn hết sức đơn giản, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết giản đơn, giá trị gia tăng thấp. Ngoài ra, còn có sự chênh lệch về năng lực giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa của Việt Nam với các yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu. Hiện nay, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này chủ yếu là từ Nhật Bản và Đài Loan... Môi trường đầu tư còn hạn chế và các doanh nghiệp chưa tính toán được mức lợi nhuận so với chi phí đầu tư nên chưa mặn mà đầu tư vào công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam.

Trên cơ sở định hướng, mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, thực tiễn khảo sát và đánh giá khách quan thực trạng tình hình thu hút FDI thời kỳ 2001-2010, xu thế phát triển của FDI thế giới sau khủng hoảng kinh tế với sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc và các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs)... có 4 định hướng chính cho việc thu hút FDI vào Việt Nam trong giai đoạn tới như sau: 1) chất lượng và hiệu quả cao; 2) phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế ít các bon; 3) có sự cam kết về chuyển giao công nghệ thích hợp với từng ngành, từng dự án; 4) lao động có kỹ năng cao. Từ 4 định hướng chung đó, có thể đặt ra mục tiêu thu hút ĐTNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dự án FDI: Trong quá trình xem xét, thẩm định dự án, tiêu chí hàng đầu là xem xét sự phù hợp của dự án với mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, với quy hoạch của từng ngành, từng địa phương, sau đó mới xem xét các tiêu chí khác như: 1) Dự án đưa lại lợi ích gì cho ngành, cho địa phương (như thu ngân sách, chuyển giao công nghệ, hình thành đội ngũ lao động có kỹ năng cao); 2) Dự án có làm tổn hại đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cộng đồng dân cư; và 3) có nên dành cho doanh nghiệp trong nước (nếu các doanh nghiệp này đáp ứng được) để dần hình thành đội ngũ doanh nghiệp lớn mạnh.

Về nguyên tắc, FDI không phải là bắt buộc lựa chọn đối với một quốc gia. Chính phủ các nước có quyền xem xét, lựa chọn dự án và đối tác đầu tư trên cơ sở các tiêu chí do mình đặt ra, song cũng có thể từ chối cấp phép đối với những dự án FDI không bảo đảm các tiêu chuẩn về lao động, tiền lương, an toàn lao động, gây ô nhiễm môi trường, không phù hợp với lợi ích cộng đồng. Hoặc các dự án khai thác tài nguyên để xuất khẩu, không sản xuất chế biến để làm gia tăng giá trị sản phẩm. Đặc biệt là các dự án đầu tư sân bay, cảng biển hoặc trồng rừng